Tính diện tích mái.
Nhập chiều dài và bề rộng công trình bằng feet, độ dốc dưới dạng độ vươn trên 12, và khoảng cách xà tim-đến-tim bằng inch. Diện tích chân (chiều dài × bề rộng) được nhân với hệ số dốc √(1 + (vươn/12)²) để chuyển diện tích mặt bằng phẳng thành bề mặt mái dốc thực tế — 1,118 ở 6/12, 1,414 ở 12/12.
Kết quả gồm diện tích bằng feet vuông và bằng ô vuông mái (1 ô = 100 sq ft), số bó ngói three-tab ở 3 bó mỗi ô làm tròn lên thành bó nguyên, và ván dán 4 × 8 ở 32 sq ft mỗi tấm, cũng làm tròn lên.
Công trình 40 × 30 ft ở 6/12 ra khoảng 1.342 sq ft bề mặt, 13,42 ô, 41 bó, và 42 tấm. Số xà dùng floor(chiều dài bằng inch ÷ khoảng cách) + 1 mỗi bên, nhân đôi — 62 xà ở tim 16 inch. Không có phần trăm hao hụt riêng được thêm vào, nên hãy đặt thêm cho xà góc, xà thung và phần cắt.
Một đơn vị 100 feet vuông bề mặt mái. Nhà cung cấp định giá ngói theo ô, và ngói three-tab tiêu chuẩn đóng 3 bó mỗi ô — đúng phép chuyển đổi mà máy tính này dùng trước khi làm tròn lên thành bó nguyên.
Nó chuyển diện tích chân phẳng thành diện tích dốc thực: √(1 + (vươn/12)²). Mái 4/12 có khoảng 5,4% bề mặt nhiều hơn diện tích chân (hệ số 1,054), 6/12 có 11,8% nhiều hơn, và 12/12 có 41,4% nhiều hơn — mái dốc lớn cần nhiều vật liệu hơn đáng kể.
Số ván là diện tích mái ÷ 32 — độ phủ của một tấm 4 × 8 — làm tròn lên. Mái 1.342 sq ft cần 42 tấm; việc làm tròn chỉ bao gồm phần tấm lẻ, không bao gồm hao hụt cắt quanh mép và lỗ mở.
Không. Số lượng được làm tròn lên đến bó và tấm nguyên kế tiếp, nhưng không có khoản phần trăm nào được áp cho xà góc, xà thung, hàng khởi đầu hoặc vật liệu hỏng. Hãy coi các con số là mức tối thiểu hình học và đặt thêm cho các mái phức tạp.